Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng.

0

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng – là một dạng của trách nhiệm pháp lý. Việc xem xét trách nhiệm pháp lý phải dựa trên những cơ sở xác định. Hay nói cách khác, trách nhiệm pháp lý phải có những điều kiện nhất định.
Nhận dạng thiệt hại theo điều 360 BLDS: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Theo quy định tại điều này, việc bồi thường thiệt hại được xác định dựa trên cơ sở (điều kiện):
(1) Có hành vi vi phạm
(2) Có thiệt hại thực tế xảy ra
(3) Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm và thiệt hại
Yếu tố “lỗi” không còn là điều kiện bắt buộc  đặt ra đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, yếu tố lỗi không cần được đặt ra. Tuy nhiên, trường hợp bên vi phạm muốn thoát trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì phải chứng minh được việc mình không có lỗi trong việc gây ra thiệt hại.
Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ, bao gồm vi phạm nghĩa vụ hợp đồng, được nhận dạng tại điều 361:
“1. Thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ bao gồm thiệt hại về vật chất và thiệt hại về tinh thần.

  1. Thiệt hại về vật chất là tổn thất vật chất thực tế xác định được, bao gồm tổn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút.
  2. Thiệt hại về tinh thần là tổn thất về tinh thần do bị xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín và các lợi ích nhân thân khác của một chủ thể.”

Trong trường hợp nghĩa vụ được xác lập theo hợp đồng, thì việc xác định thiệt hại được bồi thường còn có cơ sở tại điều 419:
“1. Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.

  1. Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
  2. Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc”.

Theo quy định tại khoản 2 điều 419, điều 13, điều 360 BLDS 2015 thì khi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng mà gây ra thiệt hại thì phải bồi thường toàn bộ. Trừ các trường hợp sau:

  • Do các bên chủ thể thỏa thuận miễn trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại
  • Thiệt hại gây ra không do lỗi của bên gây ra thiệt hại mà là do lỗi của bên bị thiệt hại
  • Thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng

Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại, tuy nhiên đó phải là lợi ích thực tế có cơ sở pháp lý. Đồng thời người có quyền có thể yêu cầu chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng.
Đối với thiệt hại của người có quyền có thể bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần. việc xác định các thiệt hại vật chất có thể dựa trên tổn thất thực tế, tuy nhiên thiệt hại về tinh thần thường không dựa trên những căn cứ mà bên bị thiệt hại đưa ra. Việc buộc bồi thường về tinh thần và mức bồi thường do Tòa án xác định trên căn cứ nội dung vụ việc.
*Cơ sở pháp lý: Bộ luật dân sự 2015
L.Đ
 
 

TRẢ LỜI

Please enter your comment!
Please enter your name here